| Mối nguy ngàn năm – Vận hội ngàn năm Đặng Lê Nguyên Vũ hiện đang sở hữu một hệ thống tư tưởng-triết lý đồ sộ và gần như hoàn thiện. Nghiên cứu lịch sử của nước ta và nhiều nước khác, ông nhận ra rằng, điểm trí mạng của dân tộc Việt, cũng giống như các dân tộc không thành công khác, là văn hóa Thái Âm - thiếu niềm tin lớn, không có khát vọng lớn, không có tư tưởng gây ảnh hưởng, không dám tranh tiên đi đầu. Ông nói, chưa bao giờ thế giới trở thành khó lường như ngày hôm này với hàng loạt khủng hoảng đan xen toàn cầu về biến đổi khí hậu, kinh tế - tài chính, năng lượng, lương thực, nghèo đói, dịch bệnh, xung đột sắc tộc – tôn giáo, đối đầu chính trị - quân sự, khủng hoảng nhân bản và đạo đức tầng lớp, hiểm họa khủng bố, vũ khí giết người hàng loạt... Đây là chỉ dấu của khủng hoảng toàn diện, đan xen và trầm trọng, khủng hoảng về hệ giá trị phát triển, ngay cả đối với các nhà nước thành công nhất. Hơn bao giờ hết, toàn thế giới cần phải Tư Duy Lại, Thiết Kế Lại và Vận Hành Lại mô hình phát triển như một chỉnh thể, nếu không sẽ dễ dàng dẫn đến tiêu vong. Dân tộc ta cũng phải tự đổi mơítư duy lại – thiết kế lại – vận hành lại trên tầm nhìn toàn cầu với thị lực biện chứng lịch sử, toàn diện,toàn cầu và nhân bản. Đã đến lúc cần có một học thuyết ưu việt đưa nhân loại sang một thời đại phát triển mới, hài hòa giữa người với người, giữa người với tự nhiên. Theo chủ toạ Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ, nhân loại có được nền văn minh như hiện tại là nhờ óc sáng tạo. “Không có sáng tạo, không có lịch sử và cũng không có tương lai”, ông nói.Theo ông, lịch sử loài người được chia làm 3 thời kỳ chính: Sáng tạo để Thích nghi, Sáng tạo vì Lòng tham và giờ đây phải là Sáng tạo có bổn phận. Sáng tạo vì lòng tham và hãnh tiến đã tàn phá thế giới trong mấy trăm năm gần đây. Theo ông Vũ, có 4 cấp độ quốc gia thành công: thống nhất giữa dân tộc với nhà nước; trở nên quốc gia độc lập - hùng mạnh; Trở thành nhà nước mấu chốt trong nền văn minh; và một nền văn minh dẫn dắt thế giới. Chúng ta đều đang có vấn đề tại 4 cấp độ này. Muốn đạt được các cấp độ đó, chúng ta cần thấu hiểu mình, hiểu bạn bè, hiểu đối tác và hiểu quân thù cũng như hiểu thiên hướng chủ lưu của thời đại. Trong đó, quan trọng nhất là ta phải hiểu rõ chân tơ kẽ tóc bản thân mình “biết mình, biết người trăm trận trăm thắng”. Chúng ta có thừa đủ điều kiện để hiện thực hóa. Nhưng muốn làm nên, nhóm nhân lực dẫn dắt Việt cần yếu cần có cùng khát vọng, tầm nhìn, đồng tâm và kiên tâm cao độ. Theo ông, ắt chúng ta đều phải dốc sức hùng tâm cho các đích dân tộc vĩ đại. Đại nghiệp sẽ thành nếu ta chọn lựa đúng chiến lược, có phương pháp đúng, và thực thi sáng ý. Có như thế, người Việt mới mong tự quyết được số mệnh. Ông cho rằng, chúng ta có hợp nhất quốc gia mà chưa có hợp nhất dân tộc càng không có sự thống nhất giữa quốc gia và dân tộc. Chúng ta chỉ có ý thức hụi và tông tộc mà thiếu vắng tinh thần quốc tộc – tức tinh thần quốc dân. Bên cạnh đó, dân khí của chúng ta rời rạc đến mức bạc nhược. Ông Vũ nói, sở dĩ thế giới hiện đang khủng hoảng bởi chưa thoát khỏi cái bóng tư tưởng kinh tế cực đoan cũ của Adam Smith, Keynes, cho đến thuyết lí địa chính trị Mackinder, triết lí biển Mahan; triết lí quyền mưu đối đầu của Tôn Tử, Clausewitz, Machiavelli; thuyết cạnh tranh sinh tồn Darwin, thuyết dân số tiêu cực Malthus… cũng như các triết lí mang tính đối kháng về tinh thần hệ và các đạo có vũ trụ quan, nhân sinh quan cũ. Tức thị nhóm tinh hoa thế giới vẫn tư duy chiến lược theo cách cũ. Einstein tuyên bố “làm như cũng mà mong kết quả mới là điên”. Những tư tưởng hướng về triệt tiêu này tiếp là cội rễ để tạo thành các phân cực đe dọa lẫn nhau. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần có niềm tin rằng, toàn thể nhân loại hoàn toàn có thể tạo ra một thế giới hài hòa và cùng phát triển bền vững với những lợi. Mang tính phổ thông và không loại trừ lẫn nhau. Và chìa khóa không gì khác chính là tinh thần cà phê thần kì. “Học thuyết Cà phê” ra đời với hạt nhân là ý thức Cà Phê -Sáng tạo có trách nhiệm, hướng đến một “cộng đồng sinh mệnh Asean” và một nền văn minh toàn cầu mới. Tinh thần Cà phê phát biểu rằng: Mọi người ai cũng có thể thành công; muốn thành công cần có sáng tạo; cà phê kích xúc sáng tạo; nhưng sáng tạo cần có một số điều kiện nền tảng về văn hóa và chính trị. Từ ý thức nhân bản đó, có thể nói cà phê là năng lượng của nền kinh tế trí thức, kinh tế sáng tạo, kinh tế vững bền, giúp kiến tạo thế giới mới. Có gần 3 tỷ người thương và ham cà phê trên toàn cầu, xuyên tôn giáo, văn hóa, địa lý, thể chế chính trị. Đây là một lực lượng sáng tạo hùng hậu nhất, và nếu họ hướng tới sáng tạo có nghĩa vụ thì thế giới sẽ hết sức tốt đẹp. Điều có thể gây ngạc nhiên là thuyết lí Cà phê đã nhận được sự hưởng ứng nồng hậu của giới tinh hoa trong nước và quốc tế. Ông đã đi khắp thế giới để truyền bá thuyết giáo, mô hình phát triển và thuyết giáo quản trị. Trong số những người san sớt tầm nhìn của ông Vũ có tên Howard Moskowitz (học giả hàng đầu của Mỹ), GS. Romano Prodi - Cựu Thủ tướng Ý, cựu chủ toạ UB Châu Âu, GS. Joseph Nye (cha đẻ của Quyền lực mềm, quyền lực sáng ý – Mỹ), GS. Stephen Sacca (Học viện MIT, Mỹ), GS. Tom Canon (ĐH Liverpool), GS. Peter Timer (ĐH Harvard), những chủ nhân giải Nobel như GS. Roger B. Myerson (Kinh tế), GS. Douglas D. Osheroff (Vật lý), GS. Harald zur Hausen (y khoa), Harold W. Kroto (Sinh hóa) v.V… Chúng ta cần thay đổi để chộp lấy dịp hội nhập ngàn năm có một, theo ông. Ông nói, đây là thời điểm định mệnh cho Việt Nam và nhân loại. Đây là thời điểm giao thoa giữa nguy cơ ngàn năm và thời cơ ngàn năm. Đây là thời đại của những “làn sóng thần”. “Nếu chúng ta làm không khéo thì bị làn sóng nhấn chìm”, ông nói: “Còn biết cách thì ta sẽ cưỡi lên làn sóng đó. Đây là thời đại mà các thần thế chuyển dịch trọng điểm từ Tây sang Đông, thời cơ chúng ta thoát khỏi cách tiếp cận vọng Bắc phương. Nói cách khác, ta có thời cơ tiếp xúc trọn vẹn ngoài phương Bắc.Bên cạnh đó,sự toàn cầu hóa đang biến đổi nhiều mặt. Đây cũng là thời đại phục hưng của Phương Đông và sự chuyển dịch đủ loại chiến lược.Căn cứ theo thuyết “Chuỗi giá trị” và thuyết giáo biên thuỳ mềm, ông Vũ cho rằng, những nước nhược tiểu hay những dân tộc tiêu thụ luôn ở phân khúc thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. “Với những vốn liếng chiến lược dồi dào, vì sao Việt Nam không thể là một thị trường sáng xuất mà luôn là thị trường lệ thuộc, tiêu thụ văn hóa và hàng hóa?”, ông quắc mắt tầm nã. Theo ông, dân tộc ở phân đoạn giá trị thấp kém và dễ dàng bị xóa sổ nhất. Trước thực tại đó, ông Vũ nghiêm mặt gằn giọng: "Chúng ta phải thắng cuộc chiến kinh tế này. Nếu thua, máu sẽ đổ!". Ông có trăm ngàn mối lo âu: lo dân tính suy vong, lo dân khí bạc nhược, lo kinh tế suy thoái, lo bờ cõi lâm nguy, rồi bách tính sẽ lầm than... Từ trong tâm thức một người tự trọng, ông lo thế hệ hôm nay là người có đại tội với tiên tổ tiền tổ, với những bậc khai sơn lập quốc, kể cả với chính đời con cháu mai sau. Mối lo này xuất hành từ những“mối nguy chung” của chúng ta. Một là, sờ soạng thế giới đang rơi vào khủng hoảng chung, và bản chất của cuộc khủng hoảng đó là khủng hoảng tài nguyên tự nhiên và không gian sinh tồn cho loài người. Hai là, thế giới đang bị chi phối bởi các tư tưởng đối đầu cưc đoan triệt tiêu lẫn nhau. Ba là,tiếp kiến có xung đột, tranh chấp đối với các nguồn lực phát triển. Bốn là, loài người vẫn theo quán tính tư duy cũ của nhị nguyên luận dẫn đến phân tranh. Năm là, vấn đề lớn nhất của loài người hiện giờ là khủng hoảng niềm tin. Những mối nguy chung đó đáng báo động ở cấp cao nhất. Mục tiêu của ông là rõ ràng và liên hoàn: “Đoàn kết dân tộc – hợp nhất Asean – Hội tụ thế giới”. Việt Nam có đầy đủ điều kiện để thực thi chiến lược định vị trọng tâm. “Ông hoàng đơn chiếc” Nhưng chính lý tưởngđó hình như đã khiến Đặng Lê Nguyên Vũ trở nên cô độc. Lẽ giản đơn là bởi “người quân tử hợp quần mà không bè phái” (Luận Ngữ). Nhiều người không hiểu vị CEO cá biệt và bài ông. Cũng đúng thôi, bởi dân gian ta đã có câu “Kình nghê vui thú kình nghê/ Tép tôm thì lại vui bề tép tôm”. Tôi nhận thấy ông Vũ liền rơi vào cảnh “việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần, nơi duy ác thiếu người bàn bạc”... “Đặng Lê Nguyên Vũ sẽ là một ông hoàng đơn chiếc”, một giáo sư tại ĐH Harvard là thân hữu của ông Vũ bình luận. Ông đơn chiếc bởi ông chọn cho mình một lối đi riêng cùng nỗi ưu tư và phương pháp luận không giống ai. Mỗi khi ông đưa ra phát ngôn về một vấn đề liên tưởng, thì tức thời xuất hiện sự hiểu nhầm hay phân hóa sâu sắc về dư luận, trong đó không ít kẻ thừa cơ công kích. Người ta gán mác cho ông Vũ với đủ loại tính từ tệ nhất đối với một người sống lý tưởng có thừa nghiêm chỉnh. Nhưng trong bão tố búa rìu dư luận ấy, vị Chủ tịch Trung Nguyên vẫn mặc nhiên. Cách hành xử khiến tôi liên can đến hành động hơn người của Sở Trang Vương trong tích “Sở Trang Tuyệt Anh”năm xưa. Công cuộc lớn khó lòng thành sự nếu chỉ có một mình Đặng Lê Nguyên Vũ hay Trung Nguyên mà cần sự hưởng ứng của mọi từng lớp quần chúng. #, Sự hậu thuẫn của quốc gia của nhóm nhân lực dẫn dắt và toàn thể các lực lượng tầng lớp. Dĩ nhiên, Đặng Lê Nguyên Vũ không phải không có những nhược điểm mang tính con người. Nếu bạn là người quá nhạy cảm thì hẳn bạn sẽ khó chịu khi xúc tiếp với ông, có ấn tượng dường như như ông quá lãnh đạm. Đó là bởi, ở người đàn ông này không có chỗ cho những cảm xúc nhỏ. Ông có cảm xúc, nhưng là những cảm xúc lớn, cho những việc lớn. Đó có lẽ là đặc điểm chung của những người thuộc về đại sự. “Nhược điểm của con người ông là quá dương tính”, một người bạn lâu năm của ông nói. Hệ quả của nó là thỉnh thoảng cực đoan một cách khủng khiếp và khô cứng hay quan điểm rất khó lọt tai đối với người đối diện. Thậm chí thỉnh thoảng ông cực đoạn đến mức kiêu bạt áp đặt cả ý kiến của mình không thèm tínhđến phản ứng của đối phương với ánh mắt “mục hạ vô nhân”. Nhưng cái dương tính là đặc biệt cần yếu trong giai đoạn này của giang sơn và, quan điểm lớn nào mà không xuất hành từ niềm tin và sự cực đoan, nhất là khi nó đúng đắn? Tôi cũng được nhiều cho là ngang, gàn, khùng, cực đoan thái quá, nhưng nhiều khi tranh luận với ông tôi cũng phải rất ghìm mình để không chửi thề, đập bàn đập ghế cho bõ tức vì sự độc đoán của ông. “Thay tủy không chỉ máu” Có vô kể cuộc gặp giữa ông Vũ với giới tinh hoa, những người có tầm ảnh hưởng trên thế giới. Họ đàm luận, kiếm tìm và chưng cất một công thức mới cho quốc gia-dân tộc được rút ra từ bài học thịnh-suy của các đế chế và quốc gia trong lịch sử. Họ san sẻ sâu sắc và đồng cảm, ủng hộ những lý tưởng, tư duy của ông Vũ. Ông tin rằng, hưng vong một quốc gia được quyết định bởi 5 yếu tố: Vị trí địa lý, độ lớn diện tích, quy mô dân số, dân tính và đặc tính chính quyền. Trong đó hai nguyên tố cuối là quan trọng nhất. Trong đa số lịch sử phát triển của dân tộc, chúng ta bị phân rã ở hai yếu tố này, nhất là văn hóa âm tính, kiểu tiểu nông làng xã hẹp hòi. Dân tính cần phải được dương tính hóa và thiết chế cần hiệu quả hóa.Chúng ta cần đổi thay vơ “gen lặn”gây ra những bệnh tật trầm kha cho dân tộc. “Chúng ta cần thay tủy, chứ không chỉ thay máu”, ông nắm bàn tay lại như cú đấm đặt lên mặt bàn đá. Ông nói, mong sao chính quyền nhận mặt được và hùng tâm giải quyết được hai khâu sau thì ta sẽ có một dân tộc mới, một Việt Nam mới. Hơn việc nào hết, chúng ta cần cải sửa văn hóa bằng ba Tinh thầnbảo vật - Chiến binh, Doanh nhân và Sáng tạo cũng như tìm cách vật chất hóa ba tinh thần này. Sự phân rã còn bắt nguồn từ sự tàn phá trong lịch sử. Lịch sử chúng ta chứng kiến những cuộc tranh giành quyền lực và thù hận của dòng họ này lên dòng tộc khác, của triều đại này lên triều đại khác, không lấy tinh thần nhà nước đặt lên trên các lợi ích nhỏ, không chịu thừa kế những tinh hoa, những công trình, những thực thể văn hóa của triều đại khác, phá hủy không tiếc thương những gì đã được tạo lập trước đó. Tư tưởng tiểu nông, tầm nhìn bị bao bọc bởi lũy tre làng, không qua ngọn tre, thiếu những khát vọng lớn trong tâm thức bản thân người Việt cũng như điều kiện kinh tế kém cỏi dẫn đến sự chấp nhận với những gì nhỏ bé, lâm thời. Không có được các tầng lớp trí thức đủ mạnh để có thể là một lực lượng chủ động, dấn thân bảo vệ các giá trị văn hóa, các giá trị lịch sử của dân tộc. Một nguyên cớ nữa khiến chúng phân rã là các mánh lới của kẻ thù khiến chúng ta suy yếu. Tuy nhiên, đối với một dân tộc dũng mãnh thì quân thù và nghịch cảnh là bảo bối để trưởng thành. Còn đối với dân tộc hèn yếu thì đó là tai họa khiến họ khiếp nhược mất hết nhuệ khí và quy phục. Thái độ đối với quân thù và nghịch cảnh nói lên một dân tộc có bản lĩnh hay không. Như một niềm tin tuyệt đối vào cái ông gọi là “thiên mệnh Việt”, và với niềm xác tín khả tri và ý thức “nhân định thắng thiên”, ông cho rằng không gì là bất khả thi. Bất lợi có thể là rất lợi, rất lợi có thể là bất lợi. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào con người chứ không phải hoàn cảnh. Cái gì đã xảy ra là có lý của nó. Quan yếu là chúng ta tự chuyển dịch vận mệnh của chính mình như thế nào. Nước Nhật đã bị tàn phá chỉ cách đây 70 năm, một thời kì chả ăn thua vào đâu so với lịch sử, vậy mà họ đã vươn lên thành một cường quốc chỉ sau một thời kì rất ngắn. Năm 1965 Singapore mới phôi thai choáng ngợp trước Sài Gòn - Hòn Ngọc Viễn Đông. “Người khác làm được thì ta làm được. Dân tộc khác làm được thì dân tộc ta làm được. Nước khác làm được thì Việt Nam làm được và còn làm tốt hơn”, ông Vũ hùng hồn như một tuyên ngôn của người Việt, đoạn nói thêm: “Khi cùng nhau, không gì là không thể”. Từ sự quan sát, nghiên cứu, suy nghiệm những bài học lịch sử nhân loại, ông Vũ cho rằng, Việt Nam phải chơi với người đứng đầu mới Trở thành người đứng đầu, thi đua với nhà nước vĩ đại mới trở nên vĩ đại. “Xét về căn cơ, dân tộc Việt Nam là một dân tộc vĩ đại. Chúng ta không bao giờ, dù chỉ trong một phút giây, được phép quên rằng chúng ta thuộcdòng dõi Con Rồng Cháu Tiênvới phẩm cấp hàng đầu”, ông đập tay nói như một tuyên bố. Cách đây chỉ 70 năm Việt Nam đã là ngọn cờ giải phóng dân tộc cho bao quốc gia bị xâm lược noi theo. Chỉ chưa đầy 40 năm trước bao người dân thế giới hàng ngày dõi theo tình hình Việt Nam, đã từng nằm mộng Trở thành người Việt Nam. Buôn Ma Thuột, 6/2013 |